|
Tù nhân Trương Văn Sương - một Nelson Mandela của Việt Nam
và những chính trị phạm khác !
*************
Đôi lời giới thiệu của tác
gỉả :
Tôi đã đặt bút viết bài này vào
đầu năm 2006 khi vừa mới ra tù
cách đây hơn 4 năm, khi ấy người
tù Trương Văn Sương bất khuất,
can trường chưa được đưa ra khỏi
nhà tù nhỏ ở trại giam Ba Sao –
Nam Hà. Tôi quyết tâm đưa tên
tuổi người tù bất khuất, vô song
này ra ánh sáng công luận để mọi
người biết đến mà tích cực tranh
đấu đòi thả anh ra khỏi chốn lao
tù và điều đó hôm nay đã một
phần trở thành sự thật. Thế
nhưng, nhà cầm quyền độc tài
CSVN mới chỉ là nhượng bộ một
phần nào dù chỉ là chấp nhận tạm
thả anh về nhà để chữa bệnh
trong thời hạn 1 năm mà thôi.
Ngày nay ai ai cũng biết, đó là
không phải nhà nước chuyên chế,
toàn trị này vì đã “nhân đạo,
hay rộng lượng” để xóa bỏ toàn
bộ phần còn lại của án phạt tù
giam chung thân mà phóng thích
anh thật sự được hoàn toàn tự do
sống nốt những năm tháng cuối
cùng của cuộc đời mình với các
con cháu trong gia đình nghèo
khổ của anh.
Gần đây, dư luận khắp thế giới
và chúng ta ở bên ngoài còn biết
đến rất nhiều những tù nhân
chính trị khác chưa được thả ra
khỏi trại giam của nhà nước mang
danh chế độ XHCN này, mặc dù
tuổi tác của họ rất cao, đã quá
già yếu, sức khỏe đã suy kiệt,
cơ thể đầy bệnh tật trầm trọng
đeo bám, hành hạ … Điều quan
trọng hơn nữa, là tất cả số
chính trị phạm này đã và đang
phải chịu những bản án tù đầy
rất bất công, hết sức nặng nề.
Họ đang tiếp tục bị giam cầm,
đầy đọa trong chốn lao tù cũng
vì đã dấn thân tham gia đấu
tranh bằng các phương thức rất
hòa bình, ôn hòa, bất bạo động
để đòi cải cách chế độ chính
trị, đòi hỏi dân chủ, tự do,
nhân quyền cho đất nước và toàn
thể nhân dân Việt Nam. Thế
nhưng, tất cả số công dân Việt
Nam yêu nước này vẫn còn bị giam
cầm đọa đầy đã hàng chục năm
trời trong lao tù khắc nghiệt
bất chấp sự kêu gọi mạnh mẽ từ
công luận bên ngoài trong nhiều
năm qua. Các trường hợp tiêu
biểu cho số tù chính trị này bao
gồm đủ những thành phần, hầu hết
họ là cựu quan chức, giới văn
nghệ sỹ, trí thức, hạ nghị sĩ
Quốc hội, cựu sĩ quan quân lực,
hay cựu cảnh sát quốc gia của
chế độ Việt Nam Cộng Hòa, như
các ông : Đỗ Thanh Nhàn 87 tuổi,
Nguyễn Tấn Nam 74 tuổi, cựu dân
biểu Lê Văn Tính 73 tuổi, Nguyễn
Hữu Cầu 66 tuổi, Trần Văn Thiêng
74 tuổi, Trần Tư 72 tuổi, (
riêng trường hợp ông Hoàng Xuân
Huy 75 tuổi là người miền Bắc
quê ở TP Hải Phòng )…vv...và vv…
Tôi cho rằng, danh sách các
chính trị phạm của chế độ CSVN
trong phạm vi cả nước hiện nay,
chắc chắn còn rất dài hơn nữa mà
trong khả năng một mình cá nhân
tôi không thể thống kê được đầy
đủ, chính xác và cụ thể nhất.
Những nhân vật trong bộ chính
trị của ĐCSVN ở trung ương tối
cao đang cầm nắm sinh mệnh cả
đất nước và của cả dân tộc này
vẫn cố giữ nguyên tư duy cũ kỹ,
trì trệ, lạc hậu, bảo thủ như
trong thời kỳ còn cuộc chiến
tranh lạnh trước kia giữa 2 phe,
mặc dù bối cảnh của thời đại và
thế giới đã thay đổi rất nhiều.
Đồng thời, đó cũng chính là
nguyên nhân sâu xa, rất căn bản
của não trạng cố chấp, hẹp hòi
vẫn còn thấm đẫm, dai dẳng, hằn
sâu trong tim óc của những người
có thực quyền đang vận hành
guồng máy độc tài toàn trị tại
quốc nội, mà những người tù khốn
khổ kia là những nạn nhân. Cũng
vì vậy, tôi hoàn toàn đồng ý với
một tác giả Lương Đồng nào đó đã
viết một bài mới đây đã được phổ
biến rộng rãi trên internet, có
tựa đề : “ Việt Nam hiện nay còn
rất nhiều Nelson Mandela”. Điều
đó, người viết hàm ý muốn nói
trường hợp tù nhân chính trị
Trương Văn Sương chưa phải là
duy nhất hay cuối cùng trên xứ
sở đất Việt còn biết bao lầm
than, đau khổ này !!!
Vì thế, tôi mong muốn tha thiết
những người bạn tù chính trị hay
tôn giáo mới được tạm thời trở
về xã hội hoặc sắp được thả ra
tới đây, hãy lên tiếng thật mạnh
mẽ như các cựu tù nhân Nguyễn
Bắc Truyển, Nguyễn Ngọc Quang
vừa rồi để công luận bên ngoài
biết đến mà đấu tranh cho số
phận đau khổ của họ đang mỏi
mòn, chết dần trong lao tù nhỏ
tạm thời được đưa ra “nhà tù
lớn”...
Phong trào đấu tranh dân chủ của
chúng ta hãy can đảm dấy lên một
chiến dịch lên tiếng này thật
sôi nổi, mạnh mẽ để lương tri
tiến bộ của toàn thể nhân loại
chú ý nhiều hơn nữa đến số phận
các tù nhân lương tâm mà trong
bao năm qua chưa được quan tâm
đúng mức và rất cần thiết đến
tình trạng của họ. Làm tốt được
điều đó, cũng chính là sự trả
lời rõ ràng nhất cho dư luận
trên toàn thế giới biết rõ hơn
nữa về lời phủ nhận khăng khăng
của các nhà lãnh đạo CSVN từ
nhiều năm qua, như họ vẫn ra rả
đêm ngày… Rằng : “Tại nước
CHXHCN VN hiện nay không hề có
tù nhân chính trị, tù nhân lương
tâm, tù nhân tôn giáo hay những
người bất đồng chính kiến, mà
chỉ có những người vi phạm luật
pháp…”, thì thật ra chỉ là những
luận điệu quá dối trá, là sự lừa
gạt trắng trợn rất “vĩ đại” mà
thôi.
Trong bối cảnh nhân dịp người tù
Trương Văn Sương mới được tạm
trở về gia đình, tôi trân trọng
giới thiệu lại bài viết về Anh
và những người tù chính trị
khác, mà tôi đã cùng sống với họ
những năm tháng trong lao tù của
chế độ CSVN trước đây. Trường
hợp của Anh, thì đúng chưa phải
là một lãnh tụ chính trị như nhà
lãnh đạo tài ba, kiên cường
Nelson Mandela của Phong trào
dân tộc Phi - ANC, người đã chịu
đựng hơn 26 năm tù giam dưới chế
độ phân biệt chủng tộc Nam Phi
trên lục địa Đen trước kia. Thế
nhưng, với thời gian hơn 33 năm
bị tù đầy thật bạo tàn, khốc
liệt qua các giai đoạn lịch sử
mà cuộc đời Anh đã từng phải nếm
trải sau ngày 30/4/1975. Trong
đó, nổi bật nhất là khí phách
tranh đấu can trường, bất khuất,
nhân cách trong sáng, tình yêu
nước, thương dân thắm thiết, tấm
lòng nhân ái, chan chứa sự khoan
dung mà chúng ta biết rất rõ về
con người rất đặc biệt này. Điều
đáng nói nữa là cả sự độ lượng,
bao dung cao cả của Anh đối với
chính chế độ độc tài vô nhân đạo
đã giam cầm mình trong suốt mấy
chục năm trường, là hoàn toàn có
thể so sánh với người tù huyền
thoại Nelson Mandela rất được
kính trọng và ngưỡng mộ đã đi
vào lịch sử nhân loại trong thời
đại ngày nay. Vì thế, nên đến
nay tôi vẫn muốn so sánh để ví
cuộc đời đã xả thân đấu tranh vì
dân tộc, đã dám hy sinh vì nghĩa
lớn của Anh tương tự như người
anh hùng Nelson Maldela của đất
nước Việt Nam chúng ta.
Bài viết này căn bản vẫn được
giữ nguyên nội dung, bố cục như
cũ, nhưng có chỉnh sửa đôi chút
cho hoàn thiện và tương đối
chính xác hơn nữa với những tư
liệu, thông tin mới được cập
nhật trong thời gian qua. Điều
đáng nói nữa là, trong bài viết
được giới thiệu với công chúng
khắp nơi dưới đây, tôi có thay
đổi, bổ sung chút ít tựa đề của
bài báo này cho phù hợp hơn nữa
với nội dung được đã đề cập ở
bên trong.
Cuối cùng, tạm biệt và trân
trọng cám ơn tất cả quý vị.
Nhà báo Nguyễn Khắc Toàn
Tổng Biên tập Tập San TỰ DO DÂN
CHỦ
Điện thoại : 0125-272-4352
Hà Nội, chủ nhật ngày 25-7-2010
@@@@@@@@@@@@@@@@
Tôi đã có ý định viết bài này
ngay từ khi còn bị tù ở trong
trại giam Ba Sao-Nam Hà từ những
năm 2003-2005. Ý nghĩ đó đã nung
nấu trong tôi suốt mấy năm trời,
vì lương tri mách bảo, thúc giục
tôi phải lên tiếng về một trường
hợp rất đặc biệt. Đó là tình
cảnh của anh Trương Văn Sương -
một người tù chính trị rất kiên
cường mà ai đã từng thụ án ở
đây, dù là tù hình sự hay án tù
“an ninh chính trị” đều không
thể không biết đến tiếng về anh.
Sáng ngày 25/4/2003, tôi bị
chuyển từ trại giam B-14 Thịnh
Liệt, ngoại thành Hà Nội đến
trại giam Ba Sao - Nam Hà để thi
hành bản án 12 năm tù phi pháp
và bất công. Trong hơn 1 giờ,
chiếc xe hơi Toyota của trại
giam B-14 chở tôi lao nhanh ra
hướng cầu vượt Ngã Tư Vọng rồi
xuôi theo đường số 1 đi về phía
nam. Đường quốc lộ số 1 này cũng
là hành trình mà hơn 30 năm về
trước, lớp thanh niên chúng tôi
tuổi mười tám đôi mươi còn rất
trẻ vừa rời ghế nhà trường đã
phải lên đường vào chiến trường
miền Nam để rồi tiếp tục phải
vượt qua các tỉnh khu 4 cũ ở
miền Trung, vượt băng qua vĩ
tuyến 17 trên sông Bến Hải. Dòng
sông này đã trở thành lằn ranh
ngăn cách hai miền Bắc-Nam thành
hai quốc gia, hai chế độ hoàn
toàn đối lập nhau sau hiệp định
Giơ-ne-vơ năm 1954….Rồi sau đó
chúng tôi hành quân theo dọc dãy
Trường Sơn trùng điệp, xuyên qua
những cánh rừng Tây nguyên, miền
hạ Lào, qua mấy tỉnh phía đông
nam Campuchia giáp biên giới
Việt Nam, cuối cùng xâm nhập sâu
vào các tỉnh miền Đông và miền
Tây Nam Bộ thuộc đồng bằng sông
Cửu long…
Nhưng hôm nay cũng trên con
đường này, trên chiếc xe hơi đời
mới có gắn máy lạnh do tư bản
Nhật chế tạo của trại giam B-14,
lại đưa tôi đến một nhà tù nào
đó ở các tỉnh phương Nam để sống
kiếp lưu đày, bởi vì tôi đã chấp
nhận dấn thân vào một cuộc tranh
đấu mới… Đó là một cuộc kháng
chiến mới cùng cả dân tộc đòi tự
do dân chủ và các quyền con
người cho nhân dân Việt Nam.
Đi cùng trên xe để áp giải tôi
hôm đó là một số cán bộ của trại
giam B-14, gồm trung tá Nguyễn
Văn Thịnh chức vụ đội trưởng đội
quản giáo, ông ta sinh năm 1958,
một đại uý lái xe cỡ trung niên
ngoài 40 tuổi, một sĩ quan trẻ
có trang bị súng ngắn rulô ổ
quay, roi điện và còng số 8 tên
là Toàn trên 30 tuổi người béo
mập, lùn cao chỉ khoảng
1,52m-1,55m áp giải, và người
cuối cùng là một nữ cán bộ khá
xinh gái tuổi ngoài 30 mặc
thường phụ trách hồ sơ của trại
cùng đi. Hai tay tôi bị khoá
chặt bởi chiếc còng số 8 mạ kền
sáng loáng và bị ngồi kẹp giữa
trung tá Thịnh cùng viên sỹ quan
áp giải kia. Hàng ghế trước là
lái xe và cô nữ sỹ quan công an
quản lý hồ sơ tù nhân. Qua câu
chuyện của nhóm cán bộ áp giải
tôi trên xe, tôi đã đoán được là
họ sẽ đưa tôi đến trại tù Ba
Sao-Nam Hà. Một trại giam khá
nổi tiếng, đây là nơi đã từng
giam các tù chính trị mà cả thế
giới từng biết đến tên tuổi của
những chính trị phạm này từ hàng
chục năm qua… Như các vị: giáo
sư Hoàng Minh Chính, Đoàn Viết
Hoạt, cựu phi công VNCH Lý Tống,
Trần Mạnh Quỳnh, học giả Nguyễn
Kiến Giang, nhà thơ Nguyễn Chí
Thiện, Linh mục Nguyễn Văn Lý,
nhà sư Thích Tuệ Sỹ, A Quý… Kể
cả rất nhiều trong các số tướng
lĩnh cao cấp của VNCH cũng đã
từng bị giam giữ ở đây gần 20
năm sau ngày kết thúc cuộc chiến
tranh Việt nam 30-4-1975, như
các trung tướng Lê Minh Đảo,
Nguyễn Hữu Có, Trần Văn Giằng…và
hàng trăm sỹ quan khác, cấp từ
đại tá trở lên thuộc quân lực
Việt nam Cộng hoà trước đây ở
miền Nam Việt Nam.
Tôi đến trại giam này, bị “trung
tâm” đóng ở trại A quyết định
đưa vào buồng số 6 phân trại
III, còn gọi là phân trại C trại
giam Ba Sao - Nam Hà. Theo lời
của chính các cán bộ quản giáo
kể lại, trại này trước đây hồi
những năm 1945-1946 chỉ là một
đồn điền trồng hồ tiêu và một số
cây ăn quả, cây công nghiệp của
một chủ người Pháp… Năm 1954 sau
khi miền Bắc rơi vào tay những
người cộng sản Việt Nam kiểm
soát thì họ biến nó trở thành
trại giam vào đầu những năm thập
niên 1960. Lúc đầu trại được đặt
tên là trại Ba Sao-thuộc tỉnh Hà
Nam. Sở dĩ có tên như vậy là vì
trại được đóng trên địa bàn xã
Ba Sao, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà
Nam. Và tỉnh Hà Nam này, đồng
thời cũng là quê hương của nhà
thơ trào phúng nổi tiếng thế kỷ
19-20, cụ Trần Tế Xương, còn gọi
thi sĩ Tú Xương. Thời chiến
tranh 2 miền Nam Bắc đang diễn
ra ác liệt, khi không quân Mỹ
oanh kích ra miền Bắc, trại đã
được dời đi sơ tán nhiều nơi và
lúc ấy chỉ có duy nhất một phân
trại A, cũng là nơi tôi vừa phải
chịu án tù giam cùng Linh Mục
Nguyễn Văn Lý, nhà báo Nguyễn Vũ
Bình, bác sỹ Phạm Hồng Sơn...
Sau gần 40 năm trại tồn tại và
phát triển đến nay, số tù nhân
cả hình sự lẫn chính trị đã lên
quá đông đúc. Nên bộ công An,
cục quản lý trại giam V-26 đã
quyết định cho xây thêm hai phân
trại nữa là phân trại II và phân
trại III (còn gọi là phân trại B
và C) để chứa gần 4000 tù cả
hình sự và chính trị phạm.
Phân trại III ( tức trại C) được
xây dựng vào năm 2000 trên nền
một đầm sen rộng tới mấy héc ta,
được bao bọc quanh là núi đá vôi
có cây cối lúp xúp, xung quanh
cách khá xa trại C có một xóm
dân cư nhỏ, thưa thớt. Tôi nhập
vào phân trại C này bị đưa vào
buồng giam số 6, lúc đó mới được
thành lập theo chỉ đạo của Tổng
cục an ninh-Bộ công an từ trên
Hà Nội lệnh xuống. Buồng giam số
6 này chuyên dành để giam những
tù dân tộc người Thượng đã tham
gia các cuộc biểu tình, đấu
tranh vận động đòi thành lập
“nhà nước ĐỀ-GA độc lập”, cùng
những người truyền đạo Tin Lành
trên các tỉnh Tây Nguyên trong
các cuộc nổi dậy diễn ra ngày
3-2-2001 và ngày 10-4-2004.
Trước đây buồng giam số 6 này
khi chưa có các tù chính trị,
tôn giáo được chuyển đến, là nơi
tạm dành cho các tù nhân thuộc
đội làm bếp nấu cơm cho tù cả
trại, đội tù phục vụ “Nhà văn
hoá” của trại và các tù tự giác
làm lẻ, chuyên phục vụ hầu hạ
riêng cho ban giám thị, cho các
cán bộ có quyền thế của phân
trại C. Buồng giam số 6 lúc đó
chỉ có khoảng 18-20 người tù,
trong buồng có 5-6 người Kinh
còn lại toàn là người dân tộc
thiểu số người Thượng trong Tây
Nguyên mới chuyển ra. Trong số
đó có mấy người tù án hình sự và
án “xâm phạm an ninh quốc gia”
vừa được chuyển sang từ buồng số
6 phân trại I (còn gọi là trại
A) của trại giam Nam Hà, như các
anh Ngô Văn Phung án bị án 18
năm, khoảng 46 tuổi, quê Vĩnh
Bảo-Hải Phòng phạm tội làm gián
điệp cho công an 2 tỉnh Quảng
Tây và Vân Nam bên Trung Quốc;
Vũ Văn Khiêm sinh năm 1968, quê
Móng Cái-Quảng Ninh trước là bộ
đội CSVN, sau đó vì đã cùng một
người anh họ lấy “tài liệu quân
sự” (theo Khiêm nói thì chỉ là
tài liệu hướng dẫn về tập đội
ngũ quân sự) bán cho Trung Quốc
bị án gián điệp 14 năm tù đã ở
được gần 10 năm; Hoàng Đồng dân
tộc Tày quê Lạng Sơn làm nghề xe
ôm bị án gián điệp 14 năm do chở
mấy người mang tài liệu về kinh
tế của Việt Nam đi bán cho công
an tỉnh Quảng Tây để lấy tiền
tiêu sài cá nhân. Hai người nữa
là ông Nguyễn Thế Truyền 63
tuổi, kỹ sư đã từng tốt nghiệp ở
Liên Xô với 2 bằng đại học, ông
là giám đốc một công ty của nhà
nước, sau đó bị xử tội “tham ô
do làm trái các quy tắc và chế
độ chính sách của nhà nước”, bị
án 20 năm tù giam, quê ở Thái
Nguyên; và một người còn lại là
Trần Hữu Dũng, lái xe tư nhân
quê Hồng Bàng-Hải Phòng bị án 18
năm tù vì tội buôn lậu gỗ pơ-mu.
Đồng thời anh này cũng là buồng
trưởng buồng số 6 do ban giám
thị cử ra để giám sát và báo cáo
mọi động tĩnh hàng ngày của anh
em tù trong buồng với ban giám
thị trại tù.
Mấy tù nhân buồng số 6 phân trại
I này được chuyển sang buồng số
6 phân trại C này là những người
đã cùng ở mấy năm liền với những
người tù chính trị quê gốc phần
lớn ở miền Nam mà án tù rất dài,
rất nặng nề, hầu như bị xử án
hết khung hình phạt, mà thấp
nhất là mức 18-20 năm tù giam
trở lên đến chung thân hoặc “bị
kết án tử hình nhưng được
đảng+nhà nước CSVN tha tội
chết”... Điều này đúng như tên,
tuổi các tù nhân mà ông Phạm Văn
Thành, Trần Nam Bình ở Paris là
những cựu tù nhân chính trị đã
viết ngày mồng 3 Tết năm Bính
Tuất vừa rồi trong bài báo: “Về
một người tù mang tên Trương Văn
Sương” và sau đó được đăng trên
trang website VietLand ngày
26-02-2006. Trong bài báo đó cả
hai ông Trần Văn Thành và Trần
Nam Bình đã nêu một danh sách cụ
thể. Tôi xin trích nguyên văn:
“Chân thành tri ân ông Nguyễn
Khắc Toàn. Chúng tôi đã chờ sự
lên tiếng của các anh chị từ lâu
về sự kiện có những tù chính trị
miền Nam đang bị giam giữ cùng
trại Nam Hà với các anh. Họ đã
bị bắt giam từ năm 1982 đến 1985
như:
a - Vũ Đình Thụy, tù cải tạo
1975-1980, tù vì tội danh “âm
mưu lật đổ chính quyền nhân dân”
năm 1983, án 20 năm; tội danh
“làm thơ phản động gởi ra nước
ngoài”, năm 1990 án 10 năm, án
này là án cộng thêm với bản án
20 năm xét xử năm 1983”. Tên
thật của ông là Võ Lâm Tề, quê
Phú Yên, cựu sĩ quan BDĐQ VNCH
xuất thân Thủ Đức. Ông sinh
khoảng năm 1952-1953.
b - Trương Văn Sương, án chung
thân, bắt giam năm 1983 cùng với
ông Trần Văn Bá, Lê Quốc Túy,
Mai Văn Hạnh.. trở về Việt Nam
từ Pháp (ông Bá đã bị CSVN thi
hành án tử hình hồi tháng 1/1985
cùng với ông Hồ Thái Bạch (tỉnh
Cửu Long)) và Lê Quốc Quân. Ông
Sương cũng là người bị bắt tù
cải tạo từ 1975 đên 1982. Tuổi
ông Sương nay khoảng 65, người
quê ở Chùa Dơi -Sóc Trăng.
c - Phan Văn Bàn, án chung thân
bị bắt giam năm 1985 khi vừa rời
trại cải tạo được 1 năm (giai
đoạn bị tập trung cải tạo từ
1975-1984). Tuổi ông Bàn nay
trên dưới 70. Ông quê Quảng
Ngãi, gia đình hiện ở Long
Thành, tỉnh Đồng Nai.
d - Bùi Thúc Nhu, sinh khoảng
1950, án chung thân bị bắt
khoảng năm 1989. Quê Phú Yên,
người xuất thân từ Đảng Đại
Việt/Phú Yên.
e - Nguyễn Đình Văn Long, người
miền Trung, bị bắt khoảng năm
1985.
f - Trần Tư, về từ Hoa Kỳ, bị
bắt 1993, án chung thân.
Đây là một số cụ thể những tù
nhân mà chúng tôi biết chắc chắn
đang còn bị giam giữ tại Trại Ba
Sao-Nam Hà, nơi ông Nguyễn Văn
Lý cùng hầu như tất cả các anh
em trong lực lượng dân chủ ngoài
Bắc đã hoặc đang bị giam giữ.
Một lần nữa, chúng tôi xin phép
được thay mặt các anh em miền
Nam đang còn trong vòng lao lý
vì các “tội danh” từng được CSVN
gọi là “tù phản động-phản cách
mạng”, tại trại giam Nam Hà,
chân thành tri ân sự ngay thẳng
và can đảm của ông Nguyễn Khắc
Toàn”…
Trong số những cựu tù chính trị
từ 1993-1998 đã từng ở các trại
giam B-34, A-20, trại Trung Ương
5 ở Lam Sơn, Đầm Đùn-Thanh Hóa
còn có một người tù chính trị
nữa tên là Đỗ Hườn, mặc dù anh
Đỗ Hườn được chuyển ra từ miền
Nam và Thanh Hoá ra buồng số 6
phân trại I trại Nam Hà rồi chết
ở đây. Riêng trường hợp anh Đỗ
Hườn thì tôi được nghe kể lại
trực tiếp từ các anh Ngô Văn
Phung, Vũ Văn Khiêm, Hoàng
Đồng…Hơn thế nữa, trước khi bị
nhà cầm quyền CSVN bỏ tù vào đầu
năm 2002, tôi đã được biết về
trường hợp ông Đỗ Hườn qua báo
chí, tivi chính thức của
đảng+nhà nước ngay khi còn ở
ngoài xã hội. Tôi còn nhớ lúc đó
truyền thông nhà nước CSVN đưa
tin trên mục “Vì an ninh tổ
quốc” của mục truyền hình “công
an nhân dân” đã có chiếu cảnh
ông Đỗ Hườn đang đi phát chẩn
thực phẩm, lương thực thuốc men
để cứu tế cho các đồng bào nghèo
ở các tỉnh miền Trung. Thế rồi
cũng trên Tivi ngay lúc ấy chiếu
cảnh tiếp đó ông ngồi cùng ghế
với trung tướng Nguyễn Khánh
Toàn, thứ trưởng bộ công an khi
ông bị bắt giữ do cầm đầu Liên
đảng từ Hoa Kỳ về lãnh đạo, hô
hào, vận động nhân dân nổi dậy,
xuống đường biểu tình chống chế
độ CSVN tại Sài Gòn khoảng năm
1993-1994…vv…
Nhưng trong số những người tù
chính trị trên đây, tôi cảm phục
và quí mến nhất là người tù mang
tên Trương Văn Sương quê ở gần
Chùa Dơi, tỉnh Sóc Trăng, ông bị
bắt vào khoảng những năm
1975-1978. Tôi đựơc biết rõ, do
theo một số người tù từng ở mấy
năm liền tại buồng giam số 6
phân trại I như tôi đã nêu ở
trên, thì anh Sương quê ở vùng
Chùa Dơi, tỉnh Sóc Trăng chứ
không phải là quê ở Cửu Long.
Tôi có ấn tượng mạnh mẽ về
trường hợp người tù này vì khí
phách bất khuất, kiên cường vô
song của ông trong chốn lao tù
đọa đầy của nhà nước CSVN. Theo
hai ông Phạm Văn Thành và Trần
Nam Bình là những cựu tù chính
trị từ những năm 1993-1998 cũng
đã từng ở các trại B-34, A-20,
trại số 5 trung ương, Lam Sơn,
Đầm Đùn-tỉnh Thanh Hoá, thì
trong bài báo trên cho biết anh
Sương bị bắt năm 1983…Nhưng theo
một số tù nhân đã từng ở trong
trại giam Ba Sao-Nam Hà năm thứ
14-15 năm và hiện nay vẫn đang
thụ án mà được ban giám thị trại
trung tâm phân công sang bộ phận
làm việc ở “Nhà văn hoá” của
trại giam Nam Hà, chuyên môn
viết hồ sơ, lý lịch trích ngang
của tất cả các tù nhân trong
trại gồm hơn 3500 tù của cả 3
phân trại, thì họ khẳng định
rằng đích thân họ biết về ngày,
tháng, năm anh Sương bị bắt là
vào khoảng những năm 1975-1978 !
Nếu như vậy thì, có thể anh
Trương Văn Sương có bị tù cải
tạo từ những năm 1975-1978 và
đến 1983 thì anh Sương bị bắt
giam tù đầy lần thứ hai. Nếu như
thế tổng số thời gian ở tù của
anh cũng đã ngót từ 28 đến 30
năm ròng rã.
Trước khi tôi được thả khỏi trại
giam Nam Hà khoảng hai ngày, cụ
thể là vào lúc 9 giờ sáng ngày
22 tháng 1 năm 2006, tôi được
trung tá Hoàng Xuân Nam đưa lên
gặp ông giám thị trưởng trại
giam Nam Hà là đại tá Dương Đức
Thắng tại phòng tiếp khách của
ban giám thị bên sườn núi gần
phía ngoài cổng trại. Trong buổi
nói chuyện hơn một giờ đồng hồ
giữa ông Thắng và tôi xung quanh
chủ đề đa nguyên, đa đảng, dân
chủ tự do, nhân quyền, kể cả sự
cầm quyền của đảng CSVN, cũng
như nhiều vấn đề xã hội, chính
trị, kinh tế trong nước và trên
thế giới… Ngay sau đó ông đại tá
Thắng cũng đề cập đến những
người tù chính trị miền Nam đã ở
gần 30 năm trong buồng giam số 6
và ở buồng 17 khu biệt giam-tức
nơi giam riêng thuộc phân trại I
trại giam Nam Hà. Điều đó chứng
tỏ có thật những người tù như
anh Trương Văn Sương cùng những
người tù chính trị thuộc Đảng
Phục Quốc ở tỉnh Phú Yên và ở
miền Trung đã phải ở tù thời
gian phải ngót nghét gần 30 năm,
chứ không thể nào là 18-20 năm
trở lại được. Trong một lần nói
chuyện với trung tá Hòang Xuân
Nam, là một sĩ quan phụ trách
mấy buồng án tù chính trị và tù
tôn giáo, tôi cũng đựơc ông cho
biết ít nhất là anh Sương cũng
đã ở tù được hơn 25 năm liên tục
cho đến nay.
Anh Trương Văn Sương có vóc dáng
người to cao, đầu húi cua sống
rất hiền lành, anh em trong
buồng, nhiều khi nhờ cọ rửa cho
những nồi xoong chậu lâu ngày
cáu bẩn anh cũng đều vui lòng
làm giúp rất tận tình không hề
quản ngại. Cũng có nhiều lúc anh
em tù đùa nhau quá lời đụng chạm
đến tên tuổi anh, anh đều ôn
tồn, điềm đạm nói: “Các em, các
cháu đừng nói chọc, nói chơi như
vậy mình lớn tuổi rồi người khác
họ nghe được họ cười cho, lần
sau thôi nhé…”. Anh Sương sống
trong buồng giam rất gắn kết,
hoà thuận với các anh em khác,
anh sống rất hiền lành chất
phác, mộc mạc, nhân hậu và chân
tình. Đa số các tù nhân chính
trị là người miền Nam, họ đều
biết đùm bọc, rất thương yêu
nhau hết mực, họ thường giúp đỡ
nhau rất nhiệt tình lúc hoạn nạn
khó khăn để cùng vượt qua nỗi
cay đắng nhọc nhằn trong chốn
lao tù của chế độ CSVN.
Tôi còn nghe kể anh đã từng là
sĩ quan của quân lực Việt Nam
Cộng Hoà trước đây ở miền Nam,
nhưng đối với cán bộ quản giáo,
công an và ban giám thị trại
giam thì anh rất cứng rắn, không
khoan nhượng. Anh là một người
tù chính trị không thể khuất
phục được, một con người gang
thép. Anh luôn dẫn đầu các cuộc
đấu tranh đòi cải thiện chế độ
sinh hoạt trong lao tù tại đây
và các trại giam anh đã từng
trải qua. Chẳng hạn như đòi phải
được phát báo Nhân dân hàng ngày
đủ và đúng theo quy định của nhà
nước, đòi phải được cấp phát đầy
đủ khẩu phần thức ăn rau, cơm
theo đúng nội quy trại giam.
Nhiều lúc cơm nấu bị sống, rau
chưa chín anh đã lên tiếng tranh
đấu, đòi cán bộ phải cho người
tù được đem đổi cơm, rau khác đã
được nấu chín, lúc đó mới nhận
cho anh em cả buồng để ăn. Có
những lần, những chậu đựng thức
ăn bằng nhôm bị dúm dó trông rất
mất mỹ quan, anh cũng yêu cầu
phải thay đổi cái khác mới hơn,
đẹp mắt hơn, hợp vệ sinh làm cho
cán bộ quản giáo và ban giám thị
rất khó chịu. Thế nhưng cuối
cùng họ vẫn phải ra lệnh cho
những tù hình sự vốn là những
“tù tự giác” chuyên đưa cơm, rau
cho tù nhân ở các buồng mang đi
đổi cái khác theo yêu sách của
mà anh đại diện tranh đấu.
Có đến một, hai lần mấy cán bộ
quản giáo, kể cả cán bộ quản
giáo trực tiếp của tôi như trung
tá Nguyễn Văn Tuyên, đại úy Kiện
có nói : “Tù chính trị mà sao
lúc nào cũng để ý miếng ăn miếng
uống như vậy thật nhỏ nhen quá
!”. Tôi ôn tồn nói lại với họ :
“Không phải đâu ! Ông Tuyên ơi !
Không phải như thế đâu, anh
Trương Văn Sương hay những tù
nhân ở buồng số 6 họ đòi hỏi
những cái đó cũng hợp lý thôi,
vì những điều này phù hợp với
chế độ, quy chế, chính sách, nội
quy trại giam và theo đúng những
tiêu chuẩn mà “Pháp lệnh thi
hành án phạt tù” của nhà nước
ban hành mà đang được thực thi.
Trước đây những người tù là cộng
sản tham gia tranh đấu chống chế
độ thực dân Pháp, chống đế quốc
như các ông Lê Duẩn, Phạm Văn
Đồng, Lê Đức Thọ, Trần Độ, Hoàng
Minh Chính, Tố Hữu, Xuân
Thuỷ…cũng đấu tranh quyết liệt
đòi cải thiện chế độ lao tù về
bát cơm, manh áo và những sinh
hoạt khác cho mình và cho anh em
bạn tù trong thời kỳ các ông lão
thành cộng sản này bị giam ở các
nhà tù Côn đảo, Sơn La, Hoả Lò,
Đắc Mê … đó sao ??? ”. Các cán
bộ quản giáo khi nghe tôi nói
như thế, thấy cũng hợp lý và im
lặng, họ không phản bác gì thêm
nữa.
Ban giám thị trại giam Nam Hà,
họ rất ngại và rất ít xuống thăm
buồng số 6 nơi anh Trương Văn
Sương và các tù nhân chính trị
bị án rất nặng đang thụ hình.
Bởi vì đã nhiều lần họ xuống đây
đã bị anh em tù chính trị người
miền Nam thẳng thừng la ó phản
đối, quyết liệt chẳng e dè hay
giữ mồm giữ miệng gì cả, làm cho
các cán bộ lãnh đạo rất bối rối,
thật khó phản ứng, khó mà tranh
luận với lý lẽ đáng thuyết lại
được với tất cả họ. Đối với
buồng chúng tôi, đa số là giam
những người tù dân tộc Tây
Nguyên thì đa phần họ sống chất
phác, thật thà, hiền lành như
bản chất người nông dân nên ít
có phản ứng lại cán bộ quyết
liệt thẳng thừng như số các tù
nhân ở buồng số 6 này. Bởi thế
nên ban giám thị trại cũng hay
xuống thăm hỏi luôn anh em tù
dân tộc Thượng và chúng tôi, còn
các quản giáo trông coi những
buồng này cũng rất nhàn hạ, dễ
chịu hơn phải trông coi buồng tù
đặc biệt số 6 nơi có ông Sương
bị giam cầm….
Đến ngày 16-12-2003, sau khi tôi
bị thi hành án cùm chân và kỷ
luật biệt giam 3 tháng liền, tôi
được chuyển sang buồng số 1 của
phân trại 1 cũng tại trại giam
này. Sang đến đây, tôi vẫn ở
cùng với anh em người Thượng –
Tây Nguyên, trong buồng lúc này
có 3 người Kinh cũng bị xử án
gián điệp vì bán tài liệu cho
công an và tình báo Trung Quốc
về tình trạng tệ nạn ma tuý, mãi
dâm ở TP - Hải Phòng. Hai người
Kinh này là anh Phạm Văn Viết 68
tuổi quê ở Móng Cái-tỉnh Quảng
Ninh án tù 17 năm và anh Vũ Hữu
Huynh trước là trung tá công an,
chức vụ phó trưởng phòng quản lý
trật tự xã hội sở công an Hải
Phòng bị án 19 năm. Người Kinh
thứ ba tên là Trần Văn Tuấn
khoảng 44 tuổi, quê ở Vĩnh Yên,
vùng tỉnh Vĩnh Phúc - Phú Thọ
cũ, nguyên trước kia là cán bộ
của hải quan cũng bị án gián
điệp 19 năm với mấy tội danh là
: “tàng trữ vũ khí trái phép,
vượt biên trái phép, bán tài
liệu cho nước ngoài, chiếm đoạt
tài liệu bí mật của nhà
nước…vv…”. Tù nhân này khi tôi
nhập vào buồng 1 thì anh ta đã ở
tù tới năm thứ 14. Cũng chính
người tù tên Tuấn này anh ta đã
ở buồng số 6 và nhiều buồng khác
trong trại Nam Hà nên biết rất
nhiều chuyện về các tù nhân nổi
danh khác như Lý Tống, Đoàn Viết
Hoạt, Hoàng Minh Chính, Thích
Tuệ Sỹ, Trần Mạnh Quỳnh, A
Quý…vv… Cuối tháng 2 năm 2006
sau Tết Bính Tuất vừa rồi, anh
ta đã hết án sau 15 năm rưỡi ở
tù do được giảm án mấy năm. Còn
một người dân tộc Tày, quê tỉnh
Lạng Sơn là Đinh Văn Bản, cấp
bậc thượng tá, năm nay khoảng 61
tuổi, chức vụ phó trưởng phòng
tình báo công an tỉnh Lạng Sơn,
bị án phạt 20 năm cũng tội gián
điệp, vì bán tài liệu và câu kết
với công an tỉnh Quảng Tây-Trung
Quốc. Tất cả mấy người tù này
đều cũng đã ở với những người tù
buồng số 6 mà trong đó có anh
Trương Văn Sương trong thời gian
khá dài. Họ kể rõ anh Sương bị
gán tội “gián điệp” và cứ mỗi
lần ban giám thị trại Nam Hà bắt
viết kiểm điểm hàng tháng, quý,
năm theo quy định của trại giam
và theo “4 Tiêu chuẩn thi đua
chấp hành án phạt tù số 1269”
mang tính bắt buộc mọi tù nhân
phải chấp hành của Bộ công an,
của cục V-26 ban hành ngày
25-12-2002. Khi ấy anh và một số
người khác tại buồng số 6 này
đều phản kháng lại rất quyết
liệt với ban giám thị trại bằng
cách không viết nội dung nhận
tội mà họ tố cáo luôn chế độ lao
tù, tố cáo bản án bất công, lên
án tội của DDCSVN đối với dân
tộc và đất nước, đòi đa nguyên
đa đảng, tự do dân chủ, đặc biệt
họ lớn tiếng tố cáo chế độ độc
tài của đảng cộng sản Việt Nam
từ bao năm qua… Nghĩa là không
bao giờ anh Sương và những người
tù án rất nặng ở buồng 6 viết
bản nhận tội theo hướng dẫn bắt
buộc của ban giám thị và các
quản giáo.
Cứ mỗi lần như vậy thì anh Sương
đều là người đứng đầu cuộc đấu
tranh và ban giám thị trại Nam
Hà phải điều hàng chục binh sĩ,
cán bộ công an quản ngục xuống
tận buồng số 6 để khoá tay, bắt
đưa anh đi cùm biệt giam ở buồng
kỷ luật mấy tháng liền. Các tù
nhân Trần Văn Tuấn, Vũ Văn
Khiêm, Ngô Văn Phung, Hoàng
Đồng, Phạm Văn Viết, Vũ Hữu
Huynh… đều kể với tôi rằng: “
Không một năm nào là ông Trương
Văn Sương không bị đưa đi cùm và
biệt giam trong buồng giam kỷ
luật vài tháng. Sau mỗi lần như
vậy ông Sương trở về buồng giam
chung lại tiếp tục đấu tranh và
lại tiếp tục bị đi cùm… Có những
năm, anh Sương bị kỷ luật như
vậy tới 2-3 lần…”. Theo quy định
của trại giam Nam Hà nói riêng
và của Cục quản lý trại giam
V-26 nói chung, thì những trường
hợp đã bị kỷ luật đi cùm và biệt
giam như vậy, thì phải hết 3 năm
sau mới được xem xét, giảm án
hàng năm và mỗi lần được giảm án
như vậy chỉ được từ 1 tháng đến
nhiều nhất là 2-3 tháng mà thôi.
Từ ngày tôi bị chuyển sang buồng
số 1 và 2 phân trại I này, còn
được các anh Trần Văn Tuấn, Phạm
Văn Viết, Vũ Hữu Huynh, Đinh Văn
Bản kể cho nghe rõ hơn những
chuyện về anh Trương Văn Sương
tranh đấu trong tù cũng tương tự
như vậy. Có lần trong lúc đưa
anh Trương Văn Sương xuống khu
biệt giam để thi hành lệnh kỷ
luật của ban giám thị phải cùm
chân ở khu vực buồng 17, nơi
hiện nay nhà báo Nguyễn Vũ Bình
đang bị giam cầm và trước đây là
Linh mục Nguyễn Văn Lý, Bs Phạm
Hồng Sơn đã từng ở. Lúc đó anh
Sương đã hô vang khẩu hiệu chống
đối rất to mà các buồng giam
quanh đấy đều nghe rất rõ : “Đả
đảo CSVN đàn áp tù chính trị !!!
Các cán bộ công an CS nếu có
giỏi thì hãy bắn tôi đi. Trương
Văn Sương này suốt đời chiến đấu
cho lý tưởng tự do…” làm cho
hàng chục cán bộ công an, quản
giáo và các binh sỹ công an trẻ
rất e ngại. Họ đã có lệnh sẽ bịt
miệng và bằng cách dùng khăn tẩm
ê te và hơi cay để trấn áp không
cho anh Trương Văn Sương tiếp
tục thét gào phản kháng nữa.
Nhưng vì tình huống nổ ra quá
bất ngờ, đột xuất làm cho số
đông công an đi áp tải tỏ ra
luống cuống, lúng túng, bối rối
không kịp trở tay. Tất cả hàng
ngàn tù hình sự ở phân trại I,
II và III nghe thấy tên tuổi và
hành động phản kháng dũng cảm,
bất khuất đó đều rất cảm phục
anh. Một số tù hình sự và tù bị
án “an ninh chính trị” đều lưu
truyền mãi câu chuyện về gương
đấu tranh kiên cường, can đảm,
bất khuất như vậy ngay trong
ngục tù của anh Trương Văn Sương
trong nhiều năm qua.
Tôi ở phân trại I hơn 2 năm liền
nên hiểu biết rõ hơn về anh
Trương Văn Sương, vì dãy buồng
số 1 và 2 nơi chúng tôi ở cũng
chỉ cách buồng 6 của anh một dãy
buồng khoảng hơn 30 mét thôi. Ở
các phân trại Nam Hà trước đây,
tất cả tù chính trị và tù hình
sự đều phải ra đồng làm việc như
nhau và làm những công việc khá
nặng như đập đá, đào ao, đào đầm
để nuôi cá, leo núi vào rừng lấy
củi, trồng trọt rau màu, chăn
nuôi bò, dê… Nhưng mấy năm trở
lại đây Tổng cục an ninh-Bộ công
an đã chỉ thị không cho số tù
nhân chính trị này ra đồng làm
nữa vì lý do giữ bí mật và lo
ngại không an toàn. Thế nên, họ
bố trí cho tù chính trị làm các
việc lao động tại sân ngay sát
buồng giam của tù, xung quanh có
tường bao bọc gọi là phân khu
buồng giam cho từng buồng, có
quản giáo trông coi và các việc
lao động nhẹ nhàng hơn trước như
làm thủ công mỹ nghệ, đan thảm
cói, đan mây tre xuất khẩu…Ban
giám thị trại quy định nếu tù
nhân nào không tham gia lao động
thì ngoài việc phải hạ loại cải
tạo xuống mức kém, không được
xem xét giảm án hay đặc xá tha
tù trước hạn, và tất cả số tù
nhân này buộc phải vào trong
buồng giam bị khoá trái lại cho
đến giờ ăn cơm mới được mở cửa
ra. Còn ngược lại, đối với các
tù nhân chấp nhận lao động thì
được làm ở ngoài sân buồng giam
mỗi ngày từ 7 đến 8 giờ, riêng
sáng thứ 7 hàng tuần chỉ làm 2
tiếng rưỡi. Những người tù chính
trị miền Nam ở buồng 6 phần lớn
chống đối không tham gia lao
động, anh Trương Văn Sương cũng
ở trong số này kể cả khi anh
chưa đến 60 tuổi. Như vậy anh
Sương ở trong buồng giam số 6
này suốt hơn chục năm cứ thế
trôi đi, cuộc đời của những
người tù mòn mỏi, chết dần, chết
mòn theo năm tháng. Những người
tù trong cảnh ngộ như vậy chẳng
khác nào như một con thú bị nhốt
trong lồng cũi quanh năm với
chút cơm, nước, rau để tồn tại
ngắc ngoải. Trong số tù nhân có
tham gia lao động ở ngoài sân
buồng giam số 6, chỉ có một
người cũng thuộc diện án nặng,
được ban giám thị xếp vào một
trong những người tù nguy hiểm,
phạm tội nghiêm trọng cho chế độ
CSVN. Đó là anh Trần Quang Đô
nằm trong nhóm kháng chiến quân
Đông Tiến đã xâm nhập vào miền
Nam để đấu tranh vũ trang chống
lại nhà nước CSVN, anh đã bị xử
án chung thân và đã ở tù được
khoảng 17 năm rồi…
Đến cuối năm 2005, vì số tù
người Thượng gồm các dân tộc
Mơ-nông, Gia-rai, Ê-đê, được
chuyển ra từ các trại giam thuộc
các tỉnh Đắc Lắc, Kon Tum, Gia
Lai, Đắc Nông rất đông. Trại Nam
Hà đã phải thành lập tới 3 buồng
giam, trong đó ở phân trại I là
2 buồng, phân trại III là 1
buồng, trung bình mỗi buồng từ
70-75 người mà không đủ chứa hết
tù. Vì thế ban giám thị trại
giam Nam Hà xin chỉ thị của cấp
trên phải lấy lại buồng giam số
6 phân trại I, nơi các anh
Sương, Bàn, Thuỵ, Nhu, Long, Đô
và kể cả Đỗ Hườn…đã và đang ở để
trở thành buồng giam thứ 4 nhốt
những người tù dân tộc Tây
Nguyên. Anh Đỗ Hườn chuyển từ
trong trại Thanh Cẩm, Thanh Hoá
ra năm 1998-1999, anh đến trại
Nam Hà ở được gần 1 năm thì bị
chết vì bệnh tiểu đường. Trại
giam Nam Hà chỉ đưa anh Đỗ Hườn
ra bệnh viện Phủ Lý khi bệnh ở
giai đoạn cuối đã quá nặng và
không cứu chữa được nữa mà thôi.
Anh Đỗ Hườn là người bị bắt do
đã lãnh đạo Liên Đảng từ Hoa Kỳ
trở về, trực tiếp kêu gọi dân
chúng xuống đường biểu tình bằng
truyền đơn, khẩu hiệu, bằng loa
phát thanh ở Sài gòn những năm
1993-1994 gì đó… Anh Ngô Văn
Phung là người cùng ăn cơm hàng
ngày với anh Đỗ Hườn cho đến khi
anh Hườn qua đời kể rằng : “anh
ấy thường tâm sự với tôi rất hy
vọng được đặc xá vào năm 2000”,
thế nhưng niềm tin, hy vọng mong
manh ấy đã không bao giờ đến
được với người tù chính trị xấu
số này nữa, vì anh đã bỏ mạng
vĩnh viễn ở trại tù Ba Sao- Nam
Hà khét tiếng.
Các anh Phung, Khiêm, Đồng còn
kể cho tôi nghe có một người tù
chính trị cũng bị án chống đối
ĐCSVN quê ở miền Nam tên là Bảo,
tuổi gần 70 đã ở tù được hơn 18
năm, chỉ còn hơn năm nữa được
trở về đoàn tụ gia đình, nhưng
sau đó anh đã ngã dập sọ não gây
tử vong khi đi vệ sinh trong
buồng giam. Sau cái chết này,
gia đình của ông Bảo ở miền Nam
đã được trại giam báo tin để gia
đình thu xếp vào trại lo đám
tang cho người nhà của mình. Gia
đình ông Bảo khóc thương thảm
thiết, họ đã la ó, kêu gào, phản
đối, lớn tiếng tố cáo chế độ
giam cầm vô nhân đạo của trại
giam Ba Sao-Nam Hà đối với thân
nhân họ đến chết thảm thương.
Tại buồng giam số 6 này còn rất
nhiều người tù khác nữa đã bị
chết ở đây, như mấy người dân
tộc Hơ Mông, quê ở Sơn La, tỉnh
Lai Châu bị nhà nước CSVN kết án
“gián điệp” mà không bao giờ
được xã hội cùng thế giới bên
ngoài biết đến, mà chỉ duy nhất
có gia đình họ và những người tù
hình sự được trại phân công chôn
xác những người tù bất hạnh này
ngay dưới chân núi bên cạnh trại
biết đến mà thôi !
Buồng giam số 6 phân trại I hồi
cuối năm 2005 chỉ có 35 người
lúc ấy chỗ nằm rất rộng trãi hơn
buồng số 1 và 2 của chúng tôi
nhiều. Có thời kỳ chúng tôi đã
phải chen chúc nhau trong buồng
số 1 và 2 rộng khoảng hơn 70 mét
vuông có một gác xép bê tông ở
ngay trong buồng nhằm để chứa
cho thêm nhiều tù, ấy thế mà
trại đã nhốt tới 75-80 người !!!
Khi ấy chỗ nằm ngủ của mỗi người
tù chỉ được khoảng 45-48 cm, tức
là hơn 2 gang bàn tay thôi bề
ngang thôi. Chúng tôi phải nằm
nghiêng, úp thìa nhau, hoặc tráo
trở đầu đuôi mới lọt. Vì tình
trạng chật chội này nên ở các
buồng giam những tù hình sự đã
thường xuyên xảy ra đánh cãi
chửi nhau, có những vụ đánh nhau
nghiêm trọng gây thương tích
hoặc gây án mạng dẫn đến chết
người. Nhiều vụ xảy ra tranh
chấp chỗ nằm gây hậu quả nghiêm
trọng như vậy đã phải khởi tố để
xử án và nhiều tù hình sự đã
phải chịu án tử hình. Ở buồng 1
phân trại I nơi tôi bị giam từ
ngày tôi bị chuyển từ trại III
sang phân trại I đến ngày
19-4-2004 thì ban giám thị lập
thêm buồng giam mới ở bên cạnh
là buồng số 2, đã có một người
tù hình sự quê Hải phòng trước
đây đã từng ở, mà sau đó anh ta
đã bị xử bắn vì tội đánh chết tù
nhân cùng buồng do tranh chấp
chỗ nằm. Trong mấy ngày liên
tiếp vào cuối tháng 8 năm 2004
Tổng cục an ninh đã chuyển tới
buồng 1 trại giam Nam Hà, nơi
tôi đang bị giam cầm cùng với
những người tù dân tộc Thượng,
có 6 người tù rất đặc biệt mới
được nhập trại. Đợt một, ngày
25-8-2004 là 3 ông già tuổi đều
trên dưới 70 và đều là đồng
hương quê ở huyện Tuy Hoà thuộc
tỉnh Phú Yên, tất cả bị kết án
với tội danh mà toà án nhà nước
CSVN ở tỉnh này gán buộc cho là
“âm mưu lật đổ chính quyền nhân
dân”, mức án từ 30 tháng đến 5
năm tù giam.
Người thứ nhất là ông Hà Tấn
Phương, sinh năm 1934, bị án 5
năm tù. Người thứ hai là ông
Nguyễn Trọng Đãi, sinh năm 1935,
bị án 30 tháng. Người thứ ba là
ông Trương Văn Chàng sinh năm
1932, bị án 30 tháng. Nội dung
vụ án của 3 ông già này là, sau
khi quê hương các ông và cả miền
Nam được “hoàn toàn giải phóng”
vào năm 1975, chính quyền CSVN ở
địa phương thực hiện chính sách
“hợp tác hoá nông nghiệp” để xây
dựng hợp tác xã sản xuất nông
nghiệp theo mô hình CS ở nông
thôn miền Bắc. Nên chính quyền
CSVN ở Tuy Hoà, Phú Yên đã tịch
thu hết ruộng đất của gia đình
các ông. Vì bị tước đoạt tài sản
ruộng đất vốn là sở hữu hợp pháp
dưới chế độ Việt Nam Cộng hoà cũ
như vậy, nên cả 3 ông trong các
cuộc họp ở thôn, xã mình đều
phát biểu phản đối rất mạnh mẽ,
quyết liệt chính sách cưỡng bức
nông dân vào hợp tác xã của
chính quyền CS mới ở quê nhà.
Thêm vào đó bản thân các ông này
dưới chế độ cũ đều ít nhiều làm
việc, phục vụ chính thể nhà nước
VNCH trước đây. Người thì phải
tham gia quân lực Việt Nam Cộng
hoà theo chế độ quân dịch làm
địa phương quân như ông Trương
Văn Chàng. Người thì công tác
cho cơ quan hỗ trợ phát triển
kinh tế Mỹ USAID ở cấp huyện như
ông Nguyễn Trọng Đãi. Người thì
làm cán bộ bình định nông thôn
hơn 10 năm như ông Hà Tấn
Phương. Với một lý lịch và thái
độ chính trị chống CS như vậy
nên bản thân, gia đình và con
cái các ông không thể theo đuổi
việc học hành hay công tác trong
các cơ quan của nhà nước CSVN
được. Vì bức xúc, quá uất ức
trước sự chèn ép và đối xử phân
biệt như vậy, nên các ông đã
tham gia Đảng Phục Quốc chi
nhánh ở tỉnh Phú Yên với hy vọng
xây dựng lực lượng chính trị để
góp phần đánh đổ chế độ CSVN,
giải phóng lại quê hương, đòi
lại tài sản ruộng đất đã bị cướp
đoạt mất…vv…
Những thập niên từ 1975-1990
nhiều đảng phái chính trị khác
biệt hoặc đối lập với Đảng CSVN
bị nhà cầm quyền CSVN truy lùng,
khủng bố khốc liệt với ý đồ tiêu
diệt những đảng phái chính trị
đó đến cùng và triệt để nhất.
Đảng Phục Quốc có chi nhánh ở
Phú Yên bị đàn áp tơi bời, khốc
liệt nhất, tàn bạo nhất, rất
nhiều lãnh tụ của đảng này đã bị
bắt, xử án chung thân hoặc tử
hình. Trước tình thế bị khủng bố
trắng đó, nên cả 3 ông đem gia
đình bỏ trốn sâu vào các tỉnh
phía Nam thuộc các tỉnh Cà Mau,
Bạc Liêu, Châu Đốc…, để lánh
nạn, họ đi làm thuê kiếm sống
ròng rã suốt 24 năm, tức là phải
lìa bỏ quê hương nơi chôn rau
cắt rốn nhiều đời từ ngay sau
ngày được gọi là “giải phóng”
chỉ vài năm thôi (1978-1979).
Điểm cuối cùng mà cả 3 ông dừng
chân để sống nốt quãng đời tuổi
già còn lại là thuộc huyện Trị
An, tỉnh Đồng Nai cho đến ngày
các ông bị bắt vào giữa năm
2003. Sở dĩ cả 3 ông già bị nhà
cầm quyền CSVN lần lượt bắt giam
là từ việc nhẹ dạ, dễ tin người
của ông Hà Tấn Phương. Trong một
lần liên lạc được với người em
họ của mình là đại tá quân đội
CSVN đã nghỉ hưu, ông được người
em họ này ra sức động viên nên
ra đầu thú chính quyền tỉnh Phú
Yên để được “hưởng chính sách
khoan hồng, độ lượng” của Đảng
và nhà nước CSVN. Tin theo lời
người em họ của mình, nên ông
Phương sau hơn 24 năm phải rời
bỏ quê hương và đã đổi tên mới
là Hồ Tấn Phượng đã ra trình báo
với các cấp công an và chính
quyền ở quê nhà. Đồng thời, ông
cũng khai ra luôn nơi trú ngụ
hiện nay của hai người bạn già
mình ở tỉnh Đồng Nai là ông
Nguyễn Trọng Đãi cũng đã được
đổi tên sau khi bỏ quê và trốn
chạy là Nguyễn Trọng, còn ông
Trương Văn Chàng được đổi tên là
Trương Chang.
Cả 3 ông già tuy lo sợ hoảng
loạn và phải trốn chạy suốt mấy
chục năm như vậy, nhưng không hề
có một lệnh truy nã nào của nhà
nước CSVN đối với các ông cả.
Nếu xét về phương diện pháp lý
thì có thể xem vụ việc của các
ông là đã “quá thời hiệu truy
cứu trách nhiệm hình sự và cần
miễn trách nhiệm hình sự ” cho
tất cả. Hơn nữa cả 3 cũng không
đe doạ gì đến nền “an ninh chính
trị quốc gia”, cũng như không
gây thiệt hại hay đe doạ đến
cuộc sống của xã hội và của bất
cứ ai, theo đúng các điều 23, 24
và 25 chương IV của chính Bộ
luật hình sự nước CHXHCN VN. Như
vậy có nghĩa là các ông già này
có thể được hoàn toàn được miễn
tố, nhà nước CSVN có thể hoàn
toàn miễn truy cứu trách nhiệm
hình sự đối với họ. Tuy nhiên,
công an Phú Yên đã bắt sống cả 3
ông già lão hom hem để đem về xử
án rồi bỏ tù như đã nói ở trên.
Riêng ông Hà Tấn Phương sau hơn
8 tháng bị giam cầm vì sức khoẻ
quá yếu nên được tạm thời tại
ngoại vì có “công đầu thú và
khai báo” với đảng và nhà nước.
Cho đến ngày đem cả 3 ông già ra
ngoài Bắc để thi hành án thì
công an CSVN tỉnh Phú Yên lại
bắt giữ lại ông già Phương này.
Mấy người bạn tù già này đều nằm
sát ngay bên tôi, chính họ đã kể
cho tôi rất nhiều về những
chuyện xã hội tự do ở miền Nam
dưới thời chế độ VNCH trước năm
1975. Họ khe khẽ say sưa hát cho
tôi nghe bài quốc ca của Việt
Nam Cộng hòa mà họ thuộc làu do
nhạc sỹ Lưu Hữu Phước sáng tác,
đó là bài “Tiếng gọi thanh
niên”. Bài hát ấy tôi còn khá
nhớ :
Này công dân ơi Quốc Gia đến
ngày giải phóng Đồng lòng cùng đi, hy sinh tiếc
gì thân sống Vì tương lai quốc dân, cùng xông
pha khói tên Làm sao cho núi sông từ nay luôn
vững bền
Dù cho thây phơi trên gươm giáo Thù nước lấy máu đào đem báo Nòi giống lúc biến - phải cần
giải nguy Này công dân ơi - vững bền tâm
trí
Hùng tráng quyết chiến đấu, làm
cho khắp nơi Vang tiếng người nước Nam - Cho
đến muôn đời Công dân ơi: Mau hiến thân dưới cờ Công dân ơi: Mau làm cho cõi bờ. Thoát cơn tàn phá – Vẻ vang -
Thành công Xứng danh nghìn năm dòng giống
Lạc Hồng….
Người thì hát cho tôi nghe những
bài được sáng tác trong thời kỳ
làm cán bộ bình định nông thôn.
Mỗi lần hát như vậy mấy ông lão
tù già lại phải nhìn trước ngó
sau xem có cán bộ quản giáo để ý
không, có cán bộ nào gần đó
không. Chúng tôi phần lớn kéo
nhau ra đằng sau dãy buồng giam
ở khu vực bếp dành đun nấu của
tù để được nghe những bài hát
hay câu thơ ngày trước thời VNCH
như vậy. Nhưng cũng may mắn là
viên cán bộ quản giáo chúng tôi
khá hiền lành, ông ta cũng ít để
ý, xăm xoi hay hạch sách gì
chúng tôi lắm. Nhưng trong số
những câu ca, bài thơ mà tôi
nghe được, ấn tượng nhất là ông
Trương Văn Chàng đã tự tay chép
lại cho tôi bài thơ với nét chữ
khá đẹp, và cũng là bài hát được
phổ nhạc thời kỳ còn kháng chiến
chống Pháp hồi 9 năm mà lúc ấy
cuộc chiến tranh 2 miền Bắc-Nam
Triều Tiên đang diễn ra ở giai
đoạn gay go ác liệt vào năm
1951-1953. Bài thơ ấy sặc mùi
giấc mơ viển vông, ngông cuồng
của chủ nghĩa cộng sản quốc tế,
có đoạn như sau:
“Anh bạn Triều Tiên ơi Máu anh cùng máu tôi rơi Trên hai đất nước một trời thù
chung. Anh có Kim Nhật Thành Tôi có Hồ Chí Minh Đây Liên Xô vĩ đại, Kia Trung Hoa mẹ hiền. Tiến lên ! Tiến lên ! Thế giới đại đồng Siết tay, siết tay nhau ! Chúng ta cùng bước xây thành Á
Đông…”
Ông Chàng còn đọc để tôi chép
nhiều bài thơ, bài ca khác nữa,
như “Chiến thắng Ninh Bình,
Chiến thắng Sông Lô, Chiến thắng
Điện Biên…”, thơ Tố Hữu ca ngợi
Stalin, Lê nin, ca ngợi các lãnh
tụ cộng sản Mao Trạch Đông, Hồ
Chí Minh…vv… Sở dĩ ông Chàng
thuộc rất nhiều bài thơ ca của
phe cộng sản, phe XHCN và CSVN,
bởi vì ông vốn là cán bộ tuyên
truyền Việt minh của xã nơi quê
nhà khi kháng chiến chống Pháp
bùng nổ. Năm 1954 hiệp định
Giơ-ne-vơ ký kết tạm chia cắt 2
miền Nam-Bắc, ông Chàng là cán
bộ miền Nam có tiêu chuẩn được
tập kết ra miền Bắc. Nhưng khi
ra đến thị xã Quy Nhơn để ngủ
qua đêm chờ ngày mai tập kết ra
Bắc, vì ông quá nhớ nhà, nhớ mẹ,
vì lúc đó ông chưa có gia đình
riêng, chưa có vợ con nên sáng
sớm hôm sau, ông đã bỏ trốn trở
lại quê nhà mà không xuống
chuyến tàu định mệnh ấy ra ngoài
Bắc nữa. Ông ở lại quê nhà Phú
Yên, rồi ít lâu sau khoảng năm
1960-1962 thì được động viên đi
lính VNCH đóng quân ở Thủ Đức,
như vậy là cuộc đời ông rẽ sang
một ngả khác trái ngược hẳn
trước kia. Tức là ông lại nhập
vào đội quân chống lại những
người bạn, đồng chí của ông đã
xuống tàu ra tập kết ngoài Bắc
mấy năm trước. Tôi rất tiếc một
số bài thơ, ca rất hay đã có
cách đây hơn nửa thế kỷ, nó cũng
là một dấu ấn lịch sử kỷ niệm
đối với cuộc đời của ông Chàng
mà tự tay ông đã chép và một số
bài do ông đọc cho tôi chép lại
rất cẩn thận mà đã hai lần bị
ban giám thị trại giam Nam Hà
điều trung tá Hoàng Xuân Nam
trực tiếp khám xét buồng giam
rồi tịch thu, tước đoạt, xé bỏ
hết sức vô lý. Dù rằng đó chính
là những bài thơ ca thời kỳ cách
mạng cộng sản đang hừng hực rất
cực tả, cực đoan và ấu trĩ sặc
nặng mùi cộng sản Mao ít.
Hai ông Hà Tấn Phương, Nguyễn
Trọng Đãi còn kể cho tôi nghe
rằng khi nổ ra cuộc cách mạng
tháng 8 năm 1945, và trong cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp
9 năm thì cả hai ông đều ít
nhiều tham gia mặt trận Việt
minh ở xã nhà. Nhưng thật là trớ
trêu, dòng lịch sử của cả dân
tộc đã bị người lãnh đạo ở cấp
cao nhất của đảng CSVN lợi dụng
tinh thần dân tộc, quốc gia và
lòng ái quốc của dân chúng lái
sang một hướng khác, một mục
đích khác để trở thành cuộc cách
mạng cộng sản thuần tuý để nhằm
xây dựng bằng được thể chế chính
trị xã hội chủ nghĩa theo mô
hình Xô Viết và Trung Cộng trên
đất nước này. Và cái gọi là cuộc
cách mạng giải phóng dân tộc, vì
lợi ích quốc gia đã bị biến
thành một bộ phận “cách mạng”
của khối cộng sản quốc tế và phe
XHCN do 2 đàn anh CS là Liên Xô
và Trung Quốc cầm đầu. Bi kịch
cuộc đời cá nhân của cả 3 người
tù già này là những bi kịch nhỏ
nằm trong tấn bi kịch lớn, cay
đắng của cả dân tộc phải chịu
đựng. Đợt đặc xá cuối cùng ngày
2-9-2005 thì cả hai người bạn tù
già vong niên của tôi là ông
Trương Văn Chàng, Nguyễn Trọng
Đãi đã được trở về nhà trước 11
tháng so với bản án đã tuyên
phạt, còn lại ông Hà Tấn Phương
hiện vẫn đang phải tiếp tục ngồi
tù thêm nữa cho đủ 5 năm… Có một
người tù dân tộc H’Mông tên là
Mùa Sáy Xó khoảng 43 tuổi chỉ vì
truyền đạo Tin lành ở quê nhà
thuộc tỉnh Điện Biên cũng bị
công an và chính quyền địa
phương bắt giam bỏ tù 3 năm, họ
gán cho anh này tội “vu khống
cán bộ”. Anh ta ở tù hơn 2 năm
rồi và cũng được gọi là “đặc xá”
đợt cuối cùng ngày 2/9/2005 khá
bất ngờ cùng với ông Đãi và ông
Chàng.
Tiếp theo 3 người tù già vào
trại mà tôi vừa kể thì kế đó,
ngày 28-8-2004, ba người tù tuổi
còn rất trẻ chưa nói sõi tiếng
phổ thông bị đưa vào buồng số 1
đều là người dân tộc H’Mông, quê
ở bản Huổi Một, xã Huổi Mươi,
huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Ba
người tù trẻ em này đều bị kết
án 13 năm tù với tội danh là:
“bạo loạn gây rối an ninh” do
toà án thành phố Viêng chăn,
nước Cộng hoà dân chủ nhân dân
Lào xét xử. Khi có án tù giam
rồi thì sau đó tất cả bị dẫn độ
về Việt Nam để thi hành bản án,
lúc đầu các cháu bị tạm giam ở
tỉnh Sơn La, Việt Nam. Người thứ
nhất là Vừ A Dơ 14 tuổi, mồ côi
do cha mẹ đã chết cả, phải sống
cùng anh chị ruột, người thứ hai
là Sùng Vả Giống 15 tuổi, người
thứ ba là Giàng Bá Trống 21
tuổi. Nội dung vụ án của mấy tù
nhân trẻ người Hơ Mông này thật
oan trái, là khi họ đã rời bỏ
quê hương nghèo đói tìm sang một
tỉnh ven biên giới với Việt Nam
ở hạ Lào để gặp gỡ Vua Mèo theo
lời đồn đại của một số người
cùng bản. Khi sang tới nơi thì
họ sa vào một nhóm người H'Mông
ở hạ Lào đang chuẩn bị cướp kho
vũ khí để chống lại chính quyền
cộng sản Lào bên đó. Vụ đột phá
cướp kho vũ khí không thành
công, rất nhiều người Mông bị
quân đội cộng sản Lào bắn chết
và bắt sống. Ba thanh thiếu niên
người H' Mông đó trở thành tù
binh của nhà nước cộng sản Lào,
rồi bị đem về thủ đô Viêng Chăn
để giam giữ, xét xử với tội danh
được toà án cộng sản Ai Lao gán
cho là: “tội phản loạn, âm mưu
lật đổ chính quyền nhân dân”.
Ngoài bị án tù giam, toà án CS
Viêng chăn còn xử phạt 3 thanh
thiếu niên bồi thường cho nhà
nước Lào số tiền là 20 nghìn Kip
nữa. Sau khi có án tù, vì nhà
nước CSVN và nhà nước CS Lào vốn
là anh em đồng chí, đồng minh,
thân hữu của nhau nên họ đã trao
trả về cho phía Việt Nam để tiếp
tục thi hành bản án. Thời gian ở
nhà tù Viêng Chăn và ở tỉnh Sơn
La họ đã kể lại cho anh em tù
chúng tôi nghe rằng: “Hiện nay ở
nhà tù Viêng Chăn, Sơn La vẫn
duy trì chế độ đeo gông và cùm
vào chân vào tay nặng mấy kí lô
gam suốt ngày đêm tuỳ theo mức
án nặng hay nhẹ, và tuỳ theo cân
nặng của cơ thể, giống hệt thời
trung cổ phong kiến cách đây mấy
ngàn năm vậy !”.
Ba tù nhân trẻ này đã ở với tôi
và những anh em tù người Thượng
tại buồng 1 phân trại I mấy
tháng, sau đó ban giám thị trại
mới quyết định chuyển các cháu
sang buồng số 6 nơi có giam các
tù nhân miền Nam như anh Trương
Văn Sương đang ở trước Tết năm
2005 ít ngày. Mấy thanh thiếu
niên trẻ tù nhân người H’Mông
này còn kể rằng tù chính trị
chống đối lại nhà nước cộng sản
Lào bị giam tại các nhà tù ở
tỉnh Xiêng Khoảng, Xavanakhet,
thủ đô Viên Chăn còn khá nhiều
và hoàn cảnh giam cầm hết sức
tồi tệ, thật khủng khiếp hơn
tình cảnh giam giữ hơn ở Việt
Nam rất nhiều. Ba cháu nhỏ tù
nhân vị thành niên người thiểu
số này sống trong buồng giam số
6 rất hiền lành, chăm lao động,
được cán bộ quản giáo như trung
tá Nguyễn Văn Tuyên, Hoàng Xuân
Nam… rất khen ngợi, thỉnh thoảng
gia đình họ cũng lên thăm nuôi
và gửi quà khá đều đặn. Tôi nghĩ
cũng nực cười, mỉa mai, là khái
niệm về tội phạm học, cũng như
theo các quy định của bộ luật tố
tụng hình sự hiện nay của nước
CHXHCN VN, thì hành vi phạm tội
của một người phải có động cơ,
mục đích rõ ràng, phải có gây
thiệt hại cho người khác hoặc
cho xã hội. Còn nhiệm vụ của các
cơ quan điều tra bảo vệ pháp
luật là phải làm rõ những tình
tiết, những chứng cứ trong vụ án
để chứng minh có hay không tội
phạm hình sự theo quy định của
bộ luật tố tụng hình sự hiện có
hiệu lực pháp lý. Từ đó các cơ
quan chức năng như công an, viện
kiểm sát, kể cả tòa án nữa mới
có thể đề nghị các cơ quan có
thẩm quyền cấp cao hơn phê chuẩn
hay ra lệnh bắt giữ, bắt giam và
áp dụng những biện pháp ngăn
chặn cần thiết như bắt giam khẩn
cấp, quản chế hay cấm đi khỏi
nơi cư trú…vv… Nhưng ở đây cả
nhà nước CS Lào lẫn nhà nước CS
Việt Nam chẳng coi quyền con
người, quyền công dân, kể cả
mạng người ra gì nên mới có
những vụ bắt bớ, xét xử rồi bỏ
tù tùy tiện bừa bãi các cháu bé
như nêu trên. Rõ ràng là tất cả
các chế độ CS toàn trị thì ở đâu
cũng cùng một bản chất như nhau
cả, cũng đều vi phạm nhân quyền
rất nghiêm trọng và nặng nề đối
với dân lành vô tội.
Sau khi buồng số 6 phân trại A
được thành lập để đưa bớt số tù
người Thượng sang đó, thì tình
hình chỗ nằm của chúng tôi được
nới rộng ra hơn đôi chút. Ở
buồng số 6 ban giám thị trại đã
phân loại ra những tù án nặng,
có tư tưởng chống đối mạnh mẽ và
quyết liệt gồm 6 người được
chuyển vào khu buồng 17, cứ 4
người ở 1 buồng trên 2 bệ xi
măng và diện tích rộng trên 10
mét vuông, mỗi chiều là 2,5mét X
4,5 mét, có 2 lớp cửa sắt kiên
cố, có 1 lỗ thông hơi nhỏ bằng 2
bàn tay, ở sảnh ngoài có quây
hàng rào B-40 rộng chừng hơn 2
mét vuông (một chiều 1 mét, một
chiều hơn 2 mét) để ban ngày
người tù có thể ra tắm nắng, hít
thở không khí. còn tuyệt đối
không được ra ngoài phạm vi đó.
Tôi đã từng ở những buồng biệt
giam như thế này gần 2 năm, đó
là thời kỳ ở trại B-14 Thanh
Liệt, Hà Nội 16 tháng và ở khu
biệt giam kỷ luật, cùm chân phân
trại III trại giam Nam Hà gần 4
tháng. Nên tôi biết rất rõ sự
khắc nghiệt và khổ sở đến cùng
cực của sự đày đoạ trong ngục tù
như thế. Trong hoàn cảnh bị giam
cầm khốc liệt như vậy, nếu người
tù không chịu vận động, tự tập
thể dục, tự đi lại thì chỉ sau
một thời gian ở khu biệt giam
này hầu hết sẽ bị liệt hai chân.
Sau khi được ra khỏi khu biệt
giam, muốn đi lại phải bám vịn
vào tường, hoặc có người khác
dìu, mất gần nửa năm trời mới đi
lại bình thường được.
Có rất nhiều người tù là người
dân tộc Thượng được chuyển từ
các trại giam ở các tỉnh cao
nguyên Trung phần ra trại giam
Nam Hà đã bị liệt trong hoàn
cảnh như vậy, vì họ bị giam giữ
trong điều kiện quá chật chội và
vì số tù nhân chen chúc quá đông
đúc như đóng cá hộp. Ban giám
thị trại giam Nam Hà đã phân
loại chọn ra được 6 người tù
thuộc loại nguy hiểm đặc biệt
nghiêm trọng để đưa đi khỏi
buồng 6 đến buồng giam mới và
chia ra làm 2 phòng ở khu biệt
giam buồng 17 gồm có các anh :
Trương Văn Sương, Vũ Đình Thuỵ,
Phan Văn Bàn, Trần Quang Đô, Bùi
Thúc Nhu, Nguyễn Đình Văn Long.
Còn riêng một người tù tên là
Trần Tư hay là Jimmy Trần gì đó
cùng vụ án chính trị với ông Đỗ
Hườn từ Hoa Kỳ trở về năm 1993
bị kết án chung thân thì hiện
nay vẫn còn ở “khu giam riêng-kỷ
luật” ở phân trại II ( còn gọi
là phân B) trại giam Nam Hà. Sở
dĩ tôi biết được thông tin chắc
chắn này là vì trong thời gian
bị cùm chân, kỷ luật ở phân trại
III trại Nam Hà tôi đã ở mấy
tháng trời hồi tháng 7-2003 đến
cuối tháng 10-2003 với những
người tù hình sự phạm tội ma
tuý, giết người, đánh nhau gây
thương tích nặng… Họ kể rằng đã
từng ở khu kỷ luật và đã từng
làm tù tự giác phục vụ việc đưa
cơm, rau, quà tiếp tế cho những
người tù như các ông Trần Tư và
cả Lý Tống nữa sau khi được đưa
ra từ trại Xuân Phước miền Nam
ra, và họ nói rõ đã làm việc này
cho đến khi người cựu phi công
Lý Tống, giáo sư Đoàn Viết Hoạt
được đặc xá trở về Mỹ vào tháng
9 năm 1998.
Khi viết về tình hình trại giam
ở Ba Sao ở đây, thì còn phải
nhắc đến một người tù chính trị
nữa là ông Hoàng Xuân Huy, quê ở
TP- Hải Phòng là bạn với anh
Phạm Văn Viết năm nay cũng 70
tuổi, bị án tù chung thân vì
thành lập “Đảng Tân Dân Chủ”,
ông bị bắt khoảng năm 1994-1995.
Nhưng có lẽ vì ông quá già yếu
nên vẫn được trại ưu ái giữ lại
ở buồng 6 cùng với các người tù
dân tộc Thượng mà đã ở cùng với
tôi từ buồng 1 và buồng 2, mặc
dù ông cũng là một người tù
chính trị thuộc loại án tù đặc
biệt nguy hiểm, nghiêm trọng cho
chế độ độc tài của ĐCSVN. Năm
vừa qua có mấy đợt gọi là đặc xá
lớn của nhà nước CSVN, nhưng
trong lệnh đặc xá đã ký của chủ
tịch nước Trần Đức Lương cùng
nhiều văn bản có liên quan đã
nói rõ không xem xét giảm án và
đặc xá những tù nhân gọi là “tội
xâm phạm an ninh quốc gia” đặc
biệt nghiêm trọng. Tuy vậy có
hai trường hợp nhà nước CSVN vẫn
thả những người tù chính trị đã
từng ở rất lâu, mà án chỉ còn
vài tháng như Đinh Văn Bé thuộc
nhóm kháng chiến quân, quê ở
Thốt Nốt, tỉnh Cần Thơ đã ở tù
được hơn 17 năm, hoặc án tù
chung thân nhưng chưa hề được bẻ
án xuống 20 năm mà vẫn được thả
về như Nguyễn Văn Lương thuộc
nhóm đảng Phục Quốc ở Phú Yên
miền trung. Anh Lương này còn là
một người tù đặc biệt vì mang
tới 2 bản án tử hình do toà án
nhà nước CSVN xét xử. Hai người
tù khá đặc biệt này đã được thả
vào 2 đợt đặc xá dịp 30-4-2005
và 2-9-2005 khi đã thụ án được
gần 20 năm.
Một trường hợp đặc biệt nữa, là
một người tù dân tộc Ê-đê tên
tên là Y Lớt thuộc mặt trận Phun
Rô quê ở Đắc Lắc bị án tử hình,
nhưng sau đó được giảm xuống
chung thân, rồi được “bẻ án”
xuống còn 20 năm. Ông Y Lớt đã ở
tù được 17 năm, tổng số các lần
giảm được hơn 3 năm, nhưng trong
đợt đặc xá 30-4-2005 ông cũng
không được thả, mặc dù tính đến
ngày hết án ông chỉ còn 1 tháng.
Sau đó ông đã được thả ra khỏi
trại để trở về Tây nguyên vào
cuối tháng 5 năm 2005. Ở khu
buồng giam 17 mà tù hình sự gọi
là khu “kiên giam”, tức là khu
giam tù rất kiên cố, rất đặc
biệt, có một chòi gác nhỏ ngay
trước sân 4 buồng giam nhỏ này
nằm ở cuối cùng trong toàn khu
trại, nơi đây là để giam các tù
chính trị án rất nặng, đặc biệt
nguy hiểm cho chế độ CSVN. Các
sỹ quan công an không có nhiệm
vụ, không được bén mảng, hay lai
vãng ở khu vực này. Hiện nay có
3 cán bộ được quản lý, trông coi
khu giam riêng này và cả 3 buồng
giam tù dân tộc người Thượng,
người Tày, người Mông có liên
quan đến cái gọi là “an ninh
chính trị quốc gia”. Đó là các
sỹ quan: trung tá Nguyễn Văn
Tuyên quê tỉnh Nam Định, đại uý
Khảm quê tỉnh Ninh Bình và một
người nữa trước đây là đại uý
Kiện tôi không rõ quê quán. Phụ
trách chung các khu buồng giam
này là trung tá Hoàng Xuân Nam
quê tỉnh Thái Bình, người sĩ
quan này có trách nhiệm theo dõi
hồ sơ, nhân sự, báo cáo hàng
ngày mọi biến chuyển trực tiếp
lên ban giám thị trại và về Tổng
cục an ninh-Bộ công an ở thủ đô
Hà nội. Buồng giam số 6 và khu
giam đặc biệt buồng 17 nói trên
có lắp camera hiện đại quan sát
để theo dõi mọi động tĩnh 24/24
giờ của các tù nhân trong buồng
do trung tá Nam điều hành ở một
phòng bên ngoài bờ tường kiên cố
của trại giam.
Lúc Phạm Hồng Sơn còn bị giam ở
khu buồng 17 này, trước khi bị
chuyển đi trại giam Yên Định,
Thanh Hoá thì tôi đang ở buồng
số 1 vừa từ ở buồng số 6 phân
trại III chuyển sang. Tuy buồng
giam tôi và buồng giam Phạm Hồng
Sơn cách nhau gần 100 mét mà mấy
năm trời không hề được nhìn thấy
nhau. Tôi đã mấy lần đề nghị ban
giám thị và quản giáo cho tôi
được ở cùng với Phạm Hồng Sơn,
hoặc Linh Mục Nguyễn Văn Lý
nhưng đều bị từ chối. Chúng tôi
chỉ biết tin nhau qua những
người tù hình sự tự giác đưa cơm
cho các buồng giam nhưng họ cũng
vô cùng lo sợ các cán bộ công an
trại nên tin tức cũng chẳng có
là bao. Họ kể rằng có một lần
đại uý Kiện quên không khoá cửa
phân khu buồng giam nên Phạm
Hồng Sơn đã chạy sang được buồng
giam Linh Mục Nguyễn Văn Lý ở
bên cạnh và hai bên trò chuyện
với nhau được khá nhiều. Sau sự
kiện đó đại uý Kiện đã bị ban
giám thị cho nghỉ việc, phải
ngồi viết kiểm điểm mất 1 tuần
và sau đó bị chuyển ra ngoài
trực “cổng phủ” tức là gác cổng
trại giam, chuyên làm nhiệm vụ
khám quà, khám người các tù hình
sự ra vào và đi lao động. Cho
đến khi tôi được thả ra, đại uý
Kiện vẫn làm nhiệm ở đấy, ông
vẫn hay mượn sách báo do gia
đình tôi gửi để đọc, đặc biệt là
thích báo thể thao. Đại uý Kiện
hay trung tá Tuyên là những
người sỹ quan rất có cảm tình
với tôi vì có lẽ ông đã đọc hồ
sơ, biết những hoạt động bên
ngoài xã hội của tôi trước khi
tôi bị nhà cầm quyền CSVN bắt và
bỏ tù. Các sỹ quan này chưa có
hành vi nào tỏ ra lăng nhục, sỉ
vả nhân phẩm và danh dự những
người như chúng tôi. Nó trái hẳn
với những hành vi, lời ăn tiếng
nói lỗ mãng, thiếu văn hoá, vô
học và rất nhiều đối xử ngược
đãi của thượng uý Vũ Văn Tài,
đảng viên ĐCSVN là quản giáo
trực tiếp của tôi khi tôi còn bị
giam ở buồng số 6 phân trại III
trong năm 2003.
Sau khi tôi được thả ra ít ngày,
trả lời phỏng vấn trên đài BBC
và trong bức thư góp ý với dự
thảo báo cáo chính trị Đại hội
ĐCSVN khoá X ngày 24-2-2006 vừa
qua. Trong đó, tôi cố ý nêu tên
anh Trương Văn Sương cũng như
đòi trả tự do vô điều kiện cho
Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Vũ Bình là
những chiến sỹ dân chủ trẻ tuổi,
nhằm để đánh động dư luận thế
giới biết và quan tâm đến số
phận một người tù như anh Trương
Văn Sương. Sau đó ít ngày, có
một Việt kiều tỵ nạn ở Hoa Kỳ đã
gửi biếu chúng tôi mỗi người 100
đô la để mua thuốc thang chữa
bệnh và tiếp tế cho những người
tù vẫn còn trong trại. Riêng về
trường hợp anh Sương tôi đã liên
hệ, tìm hiểu để gửi tiền thăm
nuôi anh, nhưng trại giam Nam Hà
không cho nhận vì lý do tôi
không phải là người thân cận,
ruột thịt của anh Sương. Tiếp đó
tôi đã quyết định dùng số tiền
100 đôla đổi ra tiền Việt mà
người Việt kiều ở Mỹ kia đã nhờ
tôi gửi tới anh Sương để mua đồ
tiếp tế gửi dần hàng tháng cho
anh. Sáng ngày 9-3-2006, mẹ tôi
và tôi đã ra chợ Kim Liên để mua
các đồ thực phẩm khô nặng tới 12
kg để gửi theo đường bưu điện từ
Hà nội cho anh Sương kèm theo
một bức thư kể rõ về nguồn gốc
số tiền và có lời mời được ghi
trong thư gửi anh: “Nếu anh được
ra khỏi trại trong thời gian tới
hãy đến thăm gặp tôi tại nhà
riêng ở Hà nội, tôi luôn luôn
sẵn sàng đón tiếp anh”. Khoảng
hơn 2 tuần sau, bưu điện ở phố
Lê Thạch gửi giấy báo cho tôi ra
nhận lại số quà mà tôi đã gửi đi
nói trên với dòng chữ ghi trên
vỏ thùng quà của cán bộ trại
giam Nam Hà: “không cho nhận quà
vì người gửi không phải là người
thân ruột thịt”.
Lòng tôi buồn nặng trĩu vì số
quà rất nhỏ nhoi, nhưng ấm tình
người của đồng bào hải ngoại nhờ
tôi gửi gắm cho anh Sương và mặc
dù tôi rất cố gắng, rất vất vả
nhưng không thực hiện được do sự
cố ý ngăn trở của ban giám thị
trại giam Nam Hà. Trong bức thư
tôi gửi kèm trong thùng quà để
tiếp tế cho anh Sương, tôi đã
tha thiết nói rõ với ban giám
thị trại giam Nam Hà, hãy vì
nhân đạo, vì tình người mà cho
anh Sương nhận số quà để động
viên anh trong cảnh ngộ bị cách
ly gia đình, xã hội gần 3 thập
niên như vậy. Tôi nhận lại túi
quà từ nhân viên bưu điện ở phố
Lê Thạch-Hà nội mang về nhà mở
ra, mặc dù vẫn còn niêm phong
nhưng thực phẩm bên trong đã vỡ,
dập nát và bị trộn lẫn vào nhau
khá nhiều. Có lẽ do vận chuyển,
quăng quật hàng trăm cây số nên
đã xảy ra tình trạng đó. Các
loại thực phẩm trong thùng quà
gồm có cá khô, đường, cà phê,
miến, bánh đa, lạc nhân, lạp
sườn, bột ngọt…vv…
Cuối cùng mấy hôm sau có một chị
tên là Nguyễn Thị Hấn, một “dân
oan” đã từng bị đánh và đàn áp ở
quê nhà do bị chính quyền địa
phương cưỡng chế cướp đất đai,
nhà cửa ở Thái nguyên, và chị đã
lặn lội ra tận trung ương khiếu
kiện, tố cáo ở vườn hoa Mai Xuân
Thưởng-Hà nội mấy năm ròng rã.
Bản thân chị đã từng là cựu
chiến binh bộ đội Trường Sơn, là
thanh niên xung phong trong
những năm chiến tranh “chống Mỹ
cứu nước”, chị cho tôi xem rất
nhiều huân huy chương được Đảng
và nhà nước tặng thưỏng khi đến
tận nhà gặp tôi để đưa đơn từ tố
cáo, nhờ tôi giúp đỡ mà do Cụ
Hoàng Minh Chính giới thiệu.
Trường hợp của chị tôi đã trực
tiếp xem trên mạng internet cả
đơn tố cáo lẫn hình ảnh với mặt
mũi bị đánh đập sưng vù, và bây
giờ mấy mẹ con chị vẫn lang
thang ban ngày đi làm thuê, ăn
xin, đêm đêm lại về gầm cầu Long
Biên để ngủ. Hàng ngày chị vẫn
đến vườn hoa Mai Xuân Thưởng
kiện cáo nỗi oan khuất của mình.
Chị cũng kể cho tôi nghe rằng đã
may mắn hân hạnh được trả lời
phỏng vấn mấy lần trên đài RFA.
Chị tha thiết đưa số điện thoại
của chị cho tôi, nhờ tôi nhắn
cho anh phóng viên Việt Hùng của
đài RFA để được phỏng vấn tố cáo
thêm về tình trạng bị đánh đập,
trù dập đối với gia đình chị.
Sau đó tất cả số quà nói trên
không gửi được cho anh Trương
Văn Sương, tôi đã tặng lại cho
chị Hấn và chị đã rất cám ơn
tôi. Chị Hấn còn cho biết rằng
mấy năm ở thủ đô để kiện tụng,
chị đã gặp hầu hết các nhà dân
chủ ở Hà nội như cụ Hoàng Minh
Chính, ông Phạm Quế Dương, ông
Lê Hồng Hà…chị gặp cả một số
quan chức cấp cao của đảng CSVN
và quân đội như cựu TBT Lê Khả
Phiêu, thượng tướng Nguyễn Nam
Khánh…và nhiều người khác để kêu
oan và nhờ họ giúp đỡ nhưng
chẳng có kết quả gì.
Từ khi tôi bị cắt điện thoại di
động, điện thoại để bàn của gia
đình, lẫn cắt cả internet vừa
mới kết nối, nên chẳng liên lạc
được gì với người Việt kiều tỵ
nạn CS tốt bụng kia nữa. Có một
lần chị Bùi Thị Kim Ngân là vợ
của nhà báo Nguyễn Vũ Bình đã
đến nhà tôi để cho biết địa chỉ
email của anh Việt Kiều ở Mỹ
kia, mà anh đã đọc qua điện
thoại cho chị Ngân biết. Nhưng
tôi gửi email mấy lần để cám ơn
và nói rõ tình hình về món quà
biếu của anh dành cho anh Trương
Văn Sương, song tất cả mấy thư
email đó đều bị bật trở lại mà
không tới được người nhận, có lẽ
email đó do đọc qua điện thoại
nên không được chính xác. Tôi hy
vọng qua bài viết này người Việt
Kiều tỵ nạn sống ở nơi nào trên
nước Mỹ mênh mông đó, sẽ đọc và
biết được toàn bộ câu chuyện về
tấm lòng của anh và sự nhiệt
tình của tôi đối với anh Trương
Văn Sương. Dù như thế nào tôi
cũng sẽ dành số tiền nhỏ nhoi
còn lại để giúp đỡ những đồng
bào khốn khổ ở Mai Xuân Thưởng
hay ở Hà nội mà tôi đã, đang và
sẽ gặp họ.
Tôi còn được nghe các tù hình sự
và tù an ninh chính trị cùng
buồng giam với tôi kể rằng anh
Trương Văn Sương là người rất
hiền lành, chất phác và thật
thà, sống tốt với anh em cùng
buồng. Hàng năm bố anh tên là
Trương Văn Xanh và con là Trương
Văn Tài vẫn gửi đồ và chút tiền
ra thăm nuôi anh dù là rất ít ỏi
vì gia đình anh cũng rất nghèo
khổ. Anh sống rất gắn kết, hoà
thuận với anh em cùng trong
buồng giam. Đã mấy lần tôi báo
cáo trực tiếp quản giáo để được
sang thăm anh Sương nhưng họ đều
từ chối. Nhiều hôm trời mưa rất
to, tôi đội áo mưa chạy sang
buồng số 6 để thăm anh nhưng cửa
phân khu và cửa buồng giam đều
khoá chặt, do đó không thực hiện
được mong muốn nhỏ bé này. Đối
với các tù hình sự ở các buồng
khác thì họ trèo rào, vượt phân
khu sang thăm nhau, ăn uống chè
chén với nhau là chuyện bình
thường. Nhưng đối với những
người tù chính trị như chúng tôi
và cả anh em dân tộc người
Thượng nữa không bao giờ làm
những điều dù rất nhỏ bé như vậy
để tránh cán bộ họ đánh giá nhầm
và hiểu sai về chúng tôi. Tôi
viết bài này còn có một động lực
thôi thúc nữa là do anh Nguyễn
Giang hiện là phóng viên danh
tiếng của đài phát thanh BBC có
một lần gọi điện về giục tôi gửi
bài góp ý cho đại hội Đảng CSVN
lần thứ X cho website của BBC.
Tôi và anh Nguyễn Giang trong
buổi nói chuyện hồi giữa tháng
2-2006 cũng đã đề cập đến trường
hợp của anh Trương Văn Sương và
anh Nguyễn Giang mong muốn có
một bài viết riêng về trường hợp
này để đài phát thanh BBC đăng
tải. Hôm nay bài viết này đã
được hoàn thành và tôi mong muốn
nó đến được tay anh phóng viên
Nguyễn Giang của đài BBC và các
bạn quan tâm.
Suy nghĩ của tôi khi viết bài
này là chỉ mong đảng CSVN, nhà
nước Việt Nam và bộ công an thôi
đi hãy đừng cố chấp, hãy đừng
mong mỏi gì được mấy dòng chữ
“tôi nhận rõ tội lỗi, thật thà
ăn năn hối cải” ở nơi anh Trương
Văn Sương và nhiều người tù khác
nữa theo “4 tiêu chuẩn 1269” vô
hồn, vô nghĩa kia nữa. Mà hãy
cao hơn thế là tình người, là
lòng nhân đạo, là sự bao dung,
là sự khoan dung và sự đại
lượng…hãy thả vô điều kiện những
người tù như anh Trương Văn
Sương ra khỏi trại giam vì anh
đã ở tù gần 30 năm là quá đủ
rồi. Dù những người án tù nặng
như anh Sương, anh Bàn, anh
Thuỵ, anh Huy…Và rất nhiều người
khác nữa, cho dù tất cả họ có
được thả ra ngay thì tôi tin
chắc rằng họ cũng không đe doạ
nghiêm trọng đến sự sống còn của
đảng và nhà nước CSVN hiện nay.
Bởi vì, đa số họ đã quá già yếu
và cùng lắm họ chỉ là những
người có chính kiến, quan điểm,
lập trường chính trị đối lập
mãnh liệt với đảng và nhà nước
CSVN hiện nay, như các vị Hoàng
Minh Chính, Trần Độ, Dương Thu
Hương, Lm Nguyễn Văn Lý, Hoà
thượng Thích Quảng Độ, chủ hội
Phật giáo Hoà Hảo Lê Quang Liêm,
Lm Chân Tín, nhà văn Trần Mạnh
Hảo, Ts Nguyễn Thanh Giang, nhà
văn Hoàng Tiến, học giả Trần
Khuê, GS Nguyễn Chính Kết, cựu
trung tá Trần Anh Kim, một số
trí thức trẻ như KS Đỗ Nam Hải,
luật sư Nguyễn Văn Đài, nhà báo
Phan Thế Hải, hoạ sỹ Nguyễn Minh
Thành, kể cả chính tôi nữa…vv…và
còn rất nhiều những người bất
đồng chính kiến khác nữa.
Tôi và dư luận nói chung cũng
đều biết rất rõ trong số những
người tù nói trên hay những
người tù chống đối chế độ và nhà
nước của ĐCSVN ở những vụ án
khác đã bị đem ra xét xử, trong
đó có rất nhiều người tham gia
đấu tranh vũ trang, hay xâm nhập
vào Việt Nam để tiến hành các
hoạt động ôn hòa nhằm giải thể
thế chế chính trị toàn trị XHCN
này. Nhưng cho đến nay hầu như
tất cả không còn nhóm, tổ chức,
hay cá nhân nào còn có những
hoạt động phản kháng theo kiểu
cổ lỗ, xưa cũ đó nữa. Mà hầu hết
bây giờ mọi phản kháng đều
chuyển sang hình thức đấu tranh
văn minh mới, rất tiến bộ, đầy
tính nhân văn trên mặt trận văn
hoá, diễn biến tư tưởng, nhận
thức, tuyên truyền, internet,
sách báo, mang tính chất bất bạo
động, tránh bạo lực, đổ máu. Suy
cho cùng vấn đề đấu tranh vũ
trang để chống lại một nhà nước,
thể chế chính trị cổ hủ, lạc
hậu, phản động, phản cách mạng
đã không còn phục vụ lợi ích của
đa số nhân dân, dân tộc, đất
nước Việt nam nữa ở bất cứ giai
đoạn lịch sử nào, thì nó cũng
giống như các cuộc nổi dậy khởi
nghĩa của các anh hùng áo vải
thời xưa kia như Hoàng Hoa Thám,
Phan Đình Phùng, Nguyễn Thiện
Thuật… Hay cũng giống như những
người cộng sản đã lãnh đạo nhân
dân dùng vũ khí chống lại chế độ
thực dân phong kiến trước đây
góp phần dành độc lập cho nước
nhà. Nói chung họ chính là những
người sống có nghĩa khí, có tinh
thần can đảm, có lòng yêu nước,
tình thương yêu nòi giống, vì
mục đích cao cả cho cộng đồng,
cho quê hương, đất nước mình. Vì
thế chúng ta phải có cái nhìn
rộng mở hơn, nhân bản, sâu sắc
hơn để hiểu rõ cội nguồn mà từ
đó cảm thông và chia sẻ nhiều
hơn với họ.
Nhân đây tôi cũng muốn đặt câu
hỏi với ông Lê Dũng - người phát
ngôn bộ ngoại giao chính phủ
nước CHXHCNVN và bà Tôn Nữ Thị
Ninh, phó chủ nhiệm ủy ban đối
ngoại Quốc hội nước CHXHCNVN.
Rằng: “Những người tôi nêu trong
bài viết này như các ông Trương
Văn Sương, Vũ Đình Thụy, Phan
Văn Bàn, Bùi Thúc Nhu, Nguyễn
Đình Văn Long, Trần Tư, Trần
Quang Đô, Đỗ Hườn, Hòang Xuân
Huy, Nguyễn Vũ Bình, Phạm Hồng
Sơn, Hà Tấn Phương, Nguyễn Trọng
Đãi, Trương Văn Chàng v.v. ...
Vậy họ có phải là tù chính trị
không ?! Và những người như Mùa
Sáy Xó,cũng như còn rất nhiều có
đến hàng chục, hàng trăm những
đồng bào dân tộc Tây nguyên chỉ
vì Truyền đạo tin lành đã sống ở
trong tù cùng tôi nhiều năm qua
và hiện nay họ vẫn còn chen chúc
trong các buồng giam số 1, số 2,
số 6, phân trại I và buồng giam
số 6 phân trại III trại giam Nam
Hà như Ksor Nơm, Y Oal Niel, Siu
Dam Jú, Y Nga Niel, Y Blong, A
Ma Hưng v..v..và vv…. Vậy họ có
phải tù nhân vì lý do tôn giáo
không ?! Thế thì họ là ai ?!”
Tôi cũng đặt thêm câu hỏi cho cả
2 ông, bà rằng: “Những người
CSVN trước đây đã chống chế độ
thực dân, đế quốc Pháp và nhà
nước phong kiến Việt Nam đã bị
bắt, bỏ tù giam như các ông Hồ
Chí Minh, Lê Duẩn , Trường
Chinh, Phạm Văn Đồng, Lê Đức
Thọ, Xuân Thủy, Tố Hữu, Hoàng
Quốc Việt… v..v… thì họ là tù
hình sự hay tù chính trị ??? Bản
chất những hoạt động chính trị
của những người Cộng sản này, có
khác gì so với những người chống
đối chính trị nhà nước Việt Nam
XHCN hiện nay không ???”. Ở đây
tôi mới nêu một trại giam mà tôi
từng chứng kiến, thế còn bao
nhiêu trại giam khác trên đất
nước khốn khổ nhỏ bé này mà chưa
được nêu lên cho công luận biết
???
Vậy mà rất nhiều lần dư luận thế
giới cũng như trong nước thường
được nghe ông Lê Dũng, bà Tôn Nữ
Thị Ninh và kể cả ông thượng
tướng thứ trưởng Bộ Công An
Nguyễn Văn Hưởng vẫn cứ leo lẻo
chối bay chối biến là: “ở nước
CHXHCNVN không có tù nhân chính
trị, tù nhân bất đồng chính
kiến, tù nhân vì lý do bị đàn áp
tôn giáo” Thế là sao ? Là sao ?
Tôi cũng rất cảm phục và thương
mến anh Trương Văn Sương, tôi
mong mỏi anh sớm được trở về
đoàn tụ bên người cha già đang
héo hắt ngóng trông từng ngày,
từng giờ nơi quê nhà xa xôi. Bởi
vì anh đã chịu án tù đày dài tới
28-30 năm ròng rã, đã trải qua
nhiều nhà tù khốc liệt ở Việt
Nam mà cho đến bây giờ vẫn chưa
được nhà cầm quyền CSVN thả ra.
Anh quả thật, rất xứng đáng là
một người tù chính trị bất
khuất, can trường và có thể được
xem là một Nelson Mandela của
Việt Nam !
Hà Nội, ngày 12 tháng 5 năm
2006
Nhà báo tự do, cựu tù nhân chính
trị
Nguyễn Khắc Toàn
Địa chỉ: Số nhà 11 Ngõ Tràng
Tiền, quận Hoàn Kiếm, TP Hà Nội
Ghi chú : Điện thoại gia đình
084.4.260.244 bị cắt, mobile cá
nhân đã bị công an và bưu điện
Hà Nội phá huỷ lần thứ 3,
internet tại nhà riêng cũng bị
cắt cùng với điện thoại sau khi
tôi gửi thư góp ý xây dựng bản
dự thảo báo cáo chính trị đại
hội lần thứ X năm 2006 của ĐCSVN
và viết nhiều bài đòi dân chủ
hoá đất nước, đòi đa nguyên đa
đảng, đòi xoá bỏ chế độ độc tài
đảng trị tại Việt Nam.
|